VĂN HÓA - XÃ HỘI VĂN HÓA - XÃ HỘI

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT BHXH NĂM 2014
Publish date 08/07/2020 | 22:57  | Lượt xem: 271

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT BHXH NĂM 2014

 

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách an sinh xã hội quan trọng, mang tính nhân văn nhân đạo sâu sắc. Sau gần 8 năm thực hiện, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII năm 2014 đã thông qua Luật BHXH sửa đổi có hiệu lực thi hành từ 01/01/2016. Việc sửa đổi Luật BHXH đã cơ bản đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện pháp luật về BHXH, đảm bảo an sinh xã hội, mở rộng diện bao phủ BHXH tới đông đảo người lao động nhằm đạt được mục tiêu “BHXH cho mọi người lao động” theo tinh thần Nghị quyết số 21 của Bộ Chính trị đã đề ra.

Nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong tổ chức thực hiện, đảm bảo lợi ích thiết thực cho người lao động (NLĐ) và các tầng lớp nhân dân, Luật BHXH Sửa đổi năm 2014 đã có thêm nhiều quy định mới, linh hoạt, thể hiện rõ tính ưu việt, nhân văn của chính sách này. Sau đây, chúng tôi xin phổ biến một số điểm mới cơ bản được áp dụng từ ngày 01/01/2016.

Thứ nhất, mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH.

Luật BHXH Sửa đổi đã bổ sung một số nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc như: người có hợp đồng lao động từ 01 đến dưới 03 tháng; cán bộ không chuyên trách ở cấp xã; người đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; Từ 01/12/2018, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam.

Đối với BHXH tự nguyện, mọi công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên mà không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có nguyện vọng đều được tham gia. Nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với người tham gia BHXH tự nguyện...

Thứ hai, về quyền lợi của NLĐ khi tham gia BHXH

Nhằm tạo điều kiện cho NLĐ giám sát người SDLĐ trong việc tham gia đóng BHXH để đảm bảo quyền lợi của mình, Luật đã bổ sung một số quyền lợi như: NLĐ được quản lý sổ BHXH trong thời gian đóng BHXH; hằng năm được xác nhận về việc đóng BHXH....; cơ quan BHXH có quyền thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, BHYT và xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực này...

Thứ ba, các chế độ BHXH bắt buộc cũng có nhiều thay đổi cơ bản

Về chế độ ốm đau

Người bị bệnh cần chữa trị dài ngày hưởng tối đa 180 ngày, sau đó nếu tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn; thời gian hưởng tối đa bằng thời gian đã đóng BHXH.

Đồng thời, quy định mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày tăng lên (bằng mức trợ cấp ốm đau theo tháng chia cho 24 ngày, Luật BHXH năm 2006 chia cho 26 ngày);

Đối với chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản: Quy định một mức hưởng chung cho một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Về chế độ thai sản cũng được bổ sung thêm nhiều quyền lợi, trong đó đáng chú ý nhất là: Quy định lao động nam được nghỉ thai sản khi vợ sinh con với thời gian từ 5 đến 14 ngày tùy theo số con được sinh và cách thức sinh con; có quy định hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ.

Chế độ hưu trí được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất hướng đến đảm bảo công bằng xã hội (trong đó có bình đẳng giới), với các nội dung chủ yếu như sau:

Đối với lương hưu hàng tháng

- Lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở cấp xã chỉ cần đủ 15 năm đóng BHXH và đủ 55 tuổi được hưởng lương hưu, đối tượng này nếu lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở thì không được điều chỉnh lương hưu bằng mức lương cơ sở như các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khác;

- Về tuổi đời hưởng lương hưu đối với người bị suy giảm khả năng lao động (KNLĐ) cũng có sự điều chỉnh: Từ ngày 01/01/2016, người bị suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên, mỗi năm tăng dần 01 tuổi đến khi nam đủ 55, nữ đủ 50 tuổi trở lên mới được hưởng lương hưu; nếu nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi thì phải suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên mới được hưởng lương hưu.         

- Về mức hưởng lương hưu:

+ Tính tỷ lệ % hưởng lương hưu thay đổi: đối với lao động nam để được hưởng 45% mức bình quân tiền lương tháng phải có tăng dần số năm đóng BHXH (nghỉ hưu năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm... từ năm 2022 trở đi là 20 năm); đối với lao động nữ hưởng 45% tương ứng đóng BHXH 15 năm. Từ năm 2018 trở đi, sau khi đạt tỷ lệ 45%, cứ mỗi năm đóng BHXH tăng thêm cả nam và nữ đều tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.

+ Đối với người nghỉ hưu trước tuổi, tỷ lệ giảm trừ tăng từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi.

+ Từ ngày 1/1/2018 trở đi tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định ngoài mức lương, phụ cấp lương còn có thêm các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật lao động. Vì vậy khi tiền lương đóng BHXH của người lao động cao hơn thì mức lương hưu sẽ cao hơn.

+ Đồng thời, Luật quy định lộ trình áp dụng cách tính lương bình quân làm căn cứ tính lương hưu đối với người thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định theo nhiều bước để tiến tới thực hiện tính bình quân chung của cả quá trình đóng BHXH, đảm bảo bình đẳng giữa khu vực trong và ngoài nhà nước.

Như vậy, một số quy định mới về chế độ hưu trí của Luật BHXH năm 2014 tác động đến một số đối tượng nên không phải ai nghỉ hưu trước năm 2018 đều có lợi hơn người nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi. Do lương hưu phụ thuộc nhiều yếu tố: Giới tính, tuổi đời, thời gian đóng BHXH, mức tiền lương đóng BHXH, thời điểm hưởng lương hưu; điều kiện làm việc; thời gian hưởng lương hưu nên người lao động cần đối chiếu với trường hợp cụ thể của mình để xem xét, quyết định.

Đối với BHXH một lần, Luật sửa đổi cho phép NLĐ khi bị mắc các bệnh nan y hoặc ra nước ngoài định cư được hưởng BHXH một lần ngay cả trong trường hợp đã có đủ 20 năm đóng BHXH. Đồng thời quy định tăng mức trợ cấp BHXH một lần từ 1,5 tháng lên 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi.

Để tạo sự linh hoạt cho NLĐ trong việc tham gia BHXH, ngày 22/6/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 93/NQ-QH13, theo đó NLĐ có quyền lựa chọn bảo lưu thời gian đóng BHXH để tiếp tục tham gia khi có điều kiện hoặc hưởng BHXH khi chưa đủ 20 năm đóng BHXH và sau một năm dừng tham gia BHXH.

Về Chế độ tử tuất

- Bổ sung điều kiện phải có đủ 12 tháng đóng BHXH bắt buộc trở lên đối với người đang tham gia hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH mới được hưởng trợ cấp mai táng (trừ trường hợp chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp).

- Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho thân nhân của NLĐ, Luật bổ sung quy định cho phép thân nhân NLĐ đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng được lựa chọn hưởng trợ cấp tuất một lần, trừ trường hợp có thân nhân là con dưới 6 tuổi, con hoặc vợ hoặc chồng mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. Ngoài ra, mức trợ cấp tuất một lần cũng được tăng từ 1,5 tháng lên 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH mỗi năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi.

Thứ tư, về chế độ BHXH tự nguyện: đã sửa đổi thống nhất chế độ chính sách giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện về chế độ hưu trí, tử tuất.

Luật BHXH năm 2014 được thông qua đã đánh dấu một bước phát triển mới về đảm bảo an sinh xã hội. Các nội dung sửa đổi của Luật BHXH lần này đều hướng đến việc đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, đảm bảo công bằng xã hội, bình đẳng giới và an sinh xã hội lâu dài cho người dân. Mọi NLĐ trên phạm vi cả nước hãy tích cực tham gia BHXH để được hưởng quyền lợi thiết thực cho bản thân và giảm gánh nặng cho gia đình khi về già./.