VĂN HÓA - XÃ HỘI VĂN HÓA - XÃ HỘI

Tuyên truyền về chính sách bảo hiểm xã hội
Publish date 08/07/2020 | 22:52  | Lượt xem: 235

Tuyên truyền về Nghị quyết số 28-NQ/TW

 - cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

 

 

Chính sách BHXH bao gồm bảo hiểm hưu trí - tử tuất; bảo hiểm thất nghiệp; bảo hiểm ốm đau, thai sản và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, với vai trò là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm phát triển và coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực đối với sự phát triển bền vững đất nước cũng như thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thời gian qua, hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, phù hợp với thực tế đất nước và thông lệ quốc tế. Quỹ BHXH đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa những người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia BHXH. Diện bao phủ BHXH ngày càng mở rộng cả về đối tượng tham gia và số người được hưởng BHXH không ngừng tăng lên; góp phần quan trọng vào nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội để phát triển bền vững đất nước trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, chính sách BHXH đang có những hạn chế, chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế - xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hóa dân số, nhất là tỉ lệ bao phủ BHXH tăng chậm, phát triển đối tượng tham gia BHXH dưới mức tiềm năng; số người hưởng BHXH một lần tăng nhanh. Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi BHXH chậm được khắc phục. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới tập trung nhiều cho khu vực chính thức, chưa có chính sách phù hợp cho khu vực phi chính thức, còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chưa chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp theo thông lệ quốc tế.

Ngày 23/5/2018, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Nghị quyết nhấn mạnh cải cách chính sách BHXH vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm an sinh xã hội. Việc phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách BHXH bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia BHXH. Đặc biệt, đây được coi là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

Về nội dung cải cách, Nghị quyết nêu rõ: “Thực hiện đồng bộ các nội dung cải cách nhằm mở rộng diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân; bảo đảm cân đối quỹ BHXH trong dài hạn, điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc, thay đổi cách thức điều chỉnh lương hưu theo hướng chia sẻ”. Theo đó, nghị quyết đề ra 11 nội dung cần thực hiện, gồm: Xây dựng hệ thống BHXH đa tầng; sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia BHXH tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt đồng thời với việc điều chỉnh cách tính lương hưu theo nguyên tắc đóng hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc sang các nhóm đối tượng khác; tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách BHXH cũng như tính linh hoạt của các chính sách nhằm đạt được mục tiêu mở rộng diện bao phủ; cải cách trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách nhằm củng cố niềm tin, tăng mức độ hài lòng của người tham gia vào hệ thống BHXH; đẩy nhanh quá trình gia tăng số lao động tham gia BHXH trong khu vực phi chính thức; sửa đổi, khắc phục các bất hợp lý về chế độ bảo hiểm hưu trí hiện nay theo hướng linh hoạt hơn về điều kiện hưởng, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng BHXH một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế của người lao động; thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình; sửa đổi các quy định về mức đóng, căn cứ đóng BHXH để đạt mục tiêu mở rộng diện bao phủ BHXH; điều chỉnh tỉ lệ tích luỹ để đạt tỉ lệ hưởng lương hưu tối đa phù hợp với thông lệ quốc tế; đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư Quỹ BHXH theo nguyên tắc an toàn, bền vững, hiệu quả; thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc, thay đổi cách thức điều chỉnh lương hưu theo hướng chia sẻ.

Nhìn tổng thể, Nghị quyết 28-NQ/ TW về cải cách chính sách BHXH có ba điểm đột phá lớn:

Một là, mở rộng bao phủ BHXH hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân thông qua việc xây dựng hệ thống BHXH đa tầng; sửa đổi quy định về điều kiện đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu theo hướng giảm thời gian đóng BHXH xuống 15 năm và lộ trình hướng đến 10 năm; điều chỉnh công thức tính lương hưu theo nguyên tắc công bằng, đóng - hưởng, chia sẻ; mở rộng đối tượng tham gia bắt buộc đến nhóm chủ hộ kinh doanh cá thể, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt. Cùng với đó là tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách; cải cách trong thiết kế chính sách và tổ chức thực hiện nhằm củng cố niềm tin của người tham gia vào hệ thống; đẩy nhanh quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.

Hai là, đảm bảo cân đối tài chính quỹ trong dài hạn. Cụ thể, sửa đổi, khắc phục bất hợp lý về chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt hơn về điều kiện hưởng, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng BHXH một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế. Sửa đổi các quy định về mức đóng, căn cứ đóng BHXH để đạt mục tiêu tăng trưởng diện bao phủ với mức hưởng chưa cao thay vì mức hưởng cao nhưng diện bao phủ hẹp. Điều chỉnh tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa phù hợp thông lệ quốc tế.

Ba là, thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối và trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc.

Như vậy, khi triển khai thực hiện ba đột phá trên sẽ đem lại hiệu quả to lớn đó là sẽ có nhiều người được đảm bảo an sinh hơn; củng cố niềm tin, sự hấp dẫn và hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội. Đó là:

- Đóng bảo hiểm 10 - 15 năm cũng được hưởng lương hưu. Nghị quyết chỉ rõ, sẽ sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt, đồng thời với việc điều chỉnh cách tính lương hưu theo nguyên tắc đóng - hưởng. Cụ thể, giảm dần số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí từ 20 năm xuống 15 năm, hướng tới còn 10 năm với mức hưởng được tính toán phù hợp, tạo điều kiện cho người lao động cao tuổi, có số năm tham gia BHXH thấp nhưng vẫn được tiếp cận và thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội.

- Sẽ giảm quyền lợi nếu hưởng BHXH một lần. Nhằm giảm tình trạng hưởng BHXH một lần, nghị quyết nêu rõ sẽ quy định theo hướng tăng quyền lợi nếu bảo lưu thời gian tham gia BHXH để hưởng chế độ hưu trí, giảm quyền lợi nếu hưởng BHXH một lần. Đồng thời, sẽ sửa đổi các quy định để khuyến khích người lao động tham gia BHXH thời gian dài hơn, từng bước tăng tuổi nghỉ hưu bình quân, tăng tỉ lệ giảm trừ tiền lương hưu đối với người lao động muốn nhận chế độ hưu trí sớm.

- Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc sẽ được mở rộng với các nhóm chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương, người lao động làm việc theo chế độ linh hoạt.

- Thiết kế các gói BHXH tự nguyện ngắn hạn. BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ hưu trí, tử tuất hiện nay và từng bước mở rộng sang các chế độ khác. Nghị quyết đề ra nhiệm vụ nghiên cứu thiết kế các gói BHXH tự nguyện ngắn hạn linh hoạt để người lao động có nhiều sự lựa chọn tham gia và thụ hưởng. Đồng thời, tạo điều kiện chuyển đổi thuận lợi giữa BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc, hướng tới chính sách BHXH bắt buộc đối với toàn bộ người lao động có việc làm, có thu nhập và tiền lương khi có đủ điều kiện cần thiết.

Như vậy, với 11 nội dung cải cách, Nghị quyết 28-NQ/TW đã định hướng phát triển chính sách BHXH thêm một tầm cao mới chia thành 03 giai đoạn thực hiện (giai đoạn đến năm 2021, giai đoạn đến năm 2025 và giai đoạn đến năm 2030) với mục tiêu BHXH thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an xinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân. Phát triển hệ thống BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch./.

 

Tham gia BHXH, BHYT, BHTN là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động, chủ sử dụng lao động trong các doanh nghiệp

 Người lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN để bảo hiểm cho chính mình, ổn định cuộc sống trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông người lao động khác và san sẻ rủi ro của chính mình theo thời gian khi không may ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, lúc già cả…

Chủ sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà mình thuê mướn. Khi tham gia BHXH, BHYT, BHTN, chủ sử dụng lao động còn vì lợi ích của chính mình khi cùng thực hiện san sẻ rủi ro giữa tập đoàn những người sử dụng lao động, để bảo đảm cho quá trình sản xuất, kinh doanh không bị ảnh hưởng khi phát sinh nhu cầu đóng – hưởng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động.

Theo quy định, tỷ lệ tham gia đóng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động hiện nay là 10,5% và của người sử dụng lao động là 21,5% mức lương làm căn cứ đóng BHXH.

Mức hưởng BHXH, BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH, BHTN. Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế. Với vai trò quản lý, xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện, Nhà nước luôn bảo đảm sự công bằng, minh bạch nhằm thực hiện tốt nhất quyền, nghĩa vụ của người tham gia BHXH, BHYT, BHTN.

Trên địa bàn Thủ đô hiện nay, tình trạng nợ đóng, chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN của các doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao, chủ yếu ở các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa, các doanh nghiệp làm trong lĩnh vực xây dựng, dịch vụ với mức nợ phổ biến từ 3 đến 6 tháng, thậm chí nhiều doanh nghiệp nợ từ 6 đến 12 tháng và đặc biệt còn có thời gian nợ kéo dài hơn.

Trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH, BHYT là các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm (quy định tại Điều 17 Luật BHXH) gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người lao động và tình hình an sinh xã hội trên địa bàn. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp nhưng không được thanh toán chế độ BHXH khi họ ốm đau, bệnh tật, mang thai, sinh đẻ hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cũng như không được hưởng quyền lợi khám chữa bệnh.

Để thực hiện công tác thu và hạn chế tối đa việc nợ tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHXH Thành phố đã thực hiện nhiều biện pháp như: tăng cường tuyên truyền, đối thoại trực tiếp với các doanh nghiệp và người lao động, cử cán bộ trực tiếp xuống doanh nghiệp để đôn đốc, lập biên bản làm việc, công khai danh sách các doanh nghiệp nợ đọng, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN trên các phương tiện thông tin đại chúng…Đồng thời BHXH Thành phố tăng cường thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, thanh tra liên ngành về đóng BHXH, BHYT, BHTN và xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp doanh nghiệp có dấu hiệu phạm tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN thì phối hợp chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền đề nghị điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

Theo khoản 1 Điều 26 Nghị định số 95 năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88 năm 2015) của Chính phủ, hành vi vi phạm hành chính về đóng BHXH, BH thất nghiệp mức phạt:

- Đối với vi phạm của cá nhân, mức phạt tiền tối đa là 75.000.000 đồng;

- Đối với vi phạm của tổ chức, mức phạt tiền tối đa là 150.000.000 đồng;

  • Thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả: truy nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng BHXH, BH thất nghiệp và số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng.

Điều 216 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rất cụ thể các mức truy cứu trách nhiệm hình sự dựa vào số lao động, số tiền mà doanh nghiệp trốn đóng. Chỉ cần trốn đóng bảo hiểm với số tiền từ 50 triệu đồng trở lên, hoặc từ 10 người lao động trở lên là đã bị xử lý hình sự, mức án thấp nhất là cải tạo không giam giữ 01 năm và mức án cao nhất là phạt tù 07 năm. Đồng thời, mức phạt tiền kèm theo đối với cá nhân vi phạm cũng tăng rất cao, thấp nhất là 50 triệu đồng và cao nhất lên đến 1 tỷ đồng. Đối với pháp nhân vi phạm thì mức phạt tiền là từ 200 triệu đồng cho đến 3 tỷ đồng.

Ngoài ra, theo quy định tại Luật BHXH sửa đổi năm 2014, người sử dụng lao động có hành vi nợ đóng, trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH, BHYT từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng (đối với BHXH), hoặc  hai lần mức lãi suất liên ngân hàng tính trên số tiền, thời gian chậm đóng và phải hoàn trả toàn bộ chi phí cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế mà người lao động đã chi trả trong thời gian chưa có thẻ bảo hiểm y tế (đối với BHYT).

Để tránh bị xâm phạm về quyền lợi, bản thân người lao động cần ý thức và hiểu rõ về các quy định quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Pháp luật cho phép người lao động có quyền được yêu cầu chủ sử dụng lao động và cơ quan BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm; được giữ sổ BHXH; được quyền khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội; ủy quyền cho tổ chức công đoàn khởi kiện chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp vi phạm về đóng bảo hiểm…

Nhằm hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và đảm bảo các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các doanh nghiệp cần nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Luật BHXH, Luật BHYT, góp phần tạo nên một xã hội phát triển bền vững với chất lượng an sinh ngày càng được nâng cao./.   

 

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI THAM GIA BHXH, BHYT

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

 

1. Đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BH thất nghiệp (BHTN), BH TNLĐ, BNN bắt buộc

- Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng; kể cả HĐLĐ được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

- Người làm việc theo HĐLĐ, HĐ làm việc, Hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHTNLĐ, BNN (thực hiện từ 01/01/2018)

-  Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

- Trường hợp người lao động giao kết HĐLĐ với nhiều người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải đóng BHTNLĐ, BNN theo từng HĐLĐ đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc.

Một số trường hợp không phải đóng

- Người LĐ ký HĐLĐ nhưng đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN.

- Người giúp việc gia đình có giao kết HĐLĐ với đơn vị không phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN, BHTNLĐ, BNN.

- Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT và không tính là thời gian tham gia BHXH, BHTN.

- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng không phải đóng BHXH, BHTN được tính là thời gian đóng BHXH

2. Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN

Đối với tiền lương do người sử dụng lao động quyết định

- Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi: tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1, Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH và các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH.

3. Mức tiền lương tối thiểu đóng BHXH, BHYT, BHTN

Tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Tiền lương tháng đóng BHXH mức thấp nhất  =  mức lương tối thiểu vùng. Trường hợp qua đào tạo cộng thêm 7%, làm nghề hoặc công việc nặng nhọc độc hại cộng thêm 5%, làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc độc hại cộng thêm 7%.

Ví dụ: Lương tối thiểu vùng I (áp dụng từ 01/01/2019) là 4.180.000 đồng.

Vậy mức lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN cho lao động:

-  Qua đào tạo không được thấp hơn 4.180.000đ x 107% = 4.472.600 đồng;

- Qua đào tạo và làm công việc nặng nhọc, độc hại không được thấp hơn  4.180.000đ x 107% x 105% = 4.696.230 đồng

- Qua đào tạo và làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại không được thấp hơn 4.180.000đ x 107% x 107% = 4.785.682 đồng.

4. Mức tiền lương cao nhất đóng BHXH, BHYT, BHTN

Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT mức cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở; đóng BHTN mức cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu vùng.

5. Tỷ lệ tham gia đóng BHXH, BHYT, BHTN:

  • Người lao động: 10,5% mức lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN (trong đó 8% quỹ hưu trí, tử tuất, 1,5% BHYT, 1% BHTN)
  • Người sử dụng lao động: 21,5% mức lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN (trong đó 14% quỹ hưu trí, tử tuất, 3% ÔĐTS, 0,5% BHTNLĐ, BNN, 3% BHYT, 1% BHTN)

6. Phương thức đóng:

- Đóng hàng tháng;

- Đóng 03 tháng, 06 tháng một lần: Đối với đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán (có thể lựa chọn phương thức này).

Chậm nhất đến ngày cuối cùng của phương thức đóng, đơn vị trích tiền đóng theo mức quy định, chuyển vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước.

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THAM GIA BHXH, BHYT, BHTN, TNLĐ, BNN

1. Người lao động:

- Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS).

- Trường hợp người lao động được hưởng quyền lợi BHYT cao hơn: bổ sung Giấy tờ chứng minh (nếu có) theo Phụ lục 03.

2. Đơn vị SDLĐ:

a) Tờ khai đơn vị tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK3-TS).

b) Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN (Mẫu D02-TS).

c) Bảng kê thông tin (Mẫu D01-TS)

3. Số lượng hồ sơ: 01 bộ.

HÌNH THỨC TIẾP NHẬN HỒ SƠ VÀ TRẢ KẾT QUẢ

1. Thực hiện qua giao dịch điện tử

          - Bước 1: Đơn vị dùng phần mềm kê khai BHXH điện tử (do các công ty phần mềm I-VAN cung cấp) để lập hồ sơ gồm 01 mẫu TK3-TS và nộp qua mạng Internet tới cơ quan BHXH thông qua Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam.

          BHXH nơi tiếp nhận thông tin do đơn vị cung cấp và gửi thông báo phản hồi:

          + Trường hợp thông tin đăng ký đầy đủ và đúng: thông báo cho đơn vị về việc hồ sơ đăng ký của đơn vị đã được chấp nhận và đang trong quá trình xử lý.

          + Trường hợp thông tin đăng ký sai hoặc thiếu: thông báo cho đơn vị, yêu cầu đơn vị bổ sung và hoàn thiện hồ sơ gửi lại BHXH nơi đơn vị tham gia BHXH.

          - Bước 2: Sau khi nhận được email phản hồi cung cấp mã giao dịch của BHXH, đơn vị thực hiện nộp tiền về tài khoản chuyên thu của BHXH.

          - Bước 3: Đơn vị thực hiện nộp hồ sơ trên phần mềm kê khai BHXH điện tử, bao gồm: mẫu D02-TS, mẫu TK1-TS, Bảng kê hồ sơ (nếu có truy thu) để thực hiện báo tăng, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho người lao động. Các bản file ảnh kèm theo bao gồm:

          + Đối với người được hưởng quyền lợi BHYT cao hơn (nếu có);

          + Giấy phép kinh doanh hoặc quyết định thành lập.

Đơn vị phải chịu trách nhiệm trước pháp luật file hình ảnh kèm theo là đúng với bản chính.

          - Bước 4: Đơn vị nhận kết quả bao gồm: sổ BHXH, thẻ BHYT được chuyển trả qua dịch vụ bưu chính theo địa chỉ đơn vị đăng ký. Chi phí chuyển phát do cơ quan BHXH chi trả.

          2. Thực hiện qua dịch vụ bưu chính

Đơn vị truy cập vào trang Website của Bưu điện Hà Nội nhập đầy đủ các thông tin liên quan tại địa chỉ (http://www.buudienhanoi.com.vn/bhxh) hoặc điện thoại trực tiếp đến số Hotline của từng Bưu cục.

          Bước 1: Đơn vị thông qua dịch vụ bưu chính thực hiện nộp hồ sơ theo các mẫu quy định nộp về Bộ phận Tiếp nhận và trả KQ TTHC của cơ quan BHXH để thực hiện báo tăng, cấp sổ BHXH, cấp thẻ BHYT cho người lao động.

          Bước 2: Đơn vị nhận kết quả bao gồm: sổ BHXH, thẻ BHYT được chuyển trả qua dịch vụ bưu chính theo địa chỉ đơn vị đăng ký.

          Chi phí chuyển phát từ việc nộp hồ sơ và nhận kết quả TTHC qua dịch vụ bưu chính do cơ quan BHXH chi trả.

          3. Trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả

Lưu ý:

- Toàn bộ quá trình tiếp nhận – luân chuyển – giải quyết – trả kết quả thực hiện tại cơ quan BHXH được theo dõi, cập nhật và công khai tại Cổng Thông tin điện tử BHXH thành phố (http://www.bhxhhn.com.vn)

CHẾ TÀI HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC

VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BHXH, BHYT

Luật Hình sự số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 quy định 03 điều luật đối với tội danh riêng về những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018:

- Điều 214 quy định về Tội gian lận BHXH, BHTN;

- Điều 215 quy định về Tội gian lận BHYT

- Điều 216 quy định về Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN.

Đối với hành vi gian lận, trốn đóng, không đóng đầy đủ BHXH, BHYT, BHTN, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm, hình phạt tiền tối đa đối với cá nhân vi phạm là 1 tỷ đồng, pháp nhân là 3 tỷ đồng; hình phạt tù cao nhất đối với cá nhân là 10 năm.

 

Liên hệ với cơ quan BHXH Thành phố, BHXH quận, huyện, thị xã hoặc truy cập Website http://www.bhxhhn.com.vn để biết thêm chi tiết